Đồ nội thất may đo thường được giới thiệu là lựa chọn cao cấp hơn đồ có sẵn. Cách so sánh đó không giúp ích gì khi phải quyết định, vì có những món may đo là lãng phí rõ ràng, và có những món mua sẵn sẽ khiến căn hộ mất đi vài mét vuông sử dụng.
Bài này đưa ra tiêu chí chọn theo từng món đồ, và bảng chi phí ẩn mà cả hai phương án đều có nhưng ít khi được nói ra khi báo giá.
Câu hỏi quyết định: món đồ này có chạm vào kiến trúc không
Đây là tiêu chí duy nhất thật sự phân loại được. Món đồ nào phải ăn khớp với tường, trần, cột hoặc hộp kỹ thuật thì may đo gần như luôn thắng. Món đồ nào đứng tự do giữa phòng thì mua sẵn gần như luôn thắng.
Nhóm nên may đo
- Tủ quần áo âm tường hoặc kịch trần. Tủ rời cao 2,2 m trong phòng cao 2,7 m tạo ra 50 cm bụi phía trên và một khe hở hai bên. Tủ may đo dùng hết chiều cao đó.
- Tủ bếp. Bếp luôn có hộp kỹ thuật, ống thoát và cửa sổ ở vị trí không theo module tiêu chuẩn nào.
- Kệ tivi và vách trang trí. Phải trùng mạch với vật liệu ốp tường phía sau.
- Đồ trong không gian bất thường: gầm cầu thang, phòng có dầm chạy ngang, ban công chuyển thành góc làm việc.
- Đầu giường liền tab. Ăn theo bề ngang tường, và giấu được dây đèn đọc.
Nhóm nên mua sẵn
- Sofa. Kết cấu khung, hệ lò xo và độ bền mút là thứ nhà máy chuyên làm sofa làm tốt hơn xưởng gỗ. Sofa đóng tại xưởng nội thất thường cứng sau một năm.
- Nệm. Không có lý do gì để đóng.
- Bàn ăn và ghế ăn. Trừ khi phòng ăn có hình dạng đặc biệt.
- Ghế làm việc. Yếu tố công thái học cần thử trực tiếp và cần cơ cấu điều chỉnh.
- Đèn, thảm, đồ trang trí. Đây là phần nên thay được theo thời gian.
Chi phí ẩn của đồ may đo
Báo giá may đo thường tính theo mét dài hoặc mét vuông bề mặt, và con số đó chưa bao gồm một số thứ:
- Phụ kiện. Ray trượt giảm chấn, bản lề, tay nâng, giá xoay góc. Phụ kiện tốt có thể chiếm 20 đến 30% giá trị một chiếc tủ bếp, và đây là phần hỏng trước tiên nếu chọn rẻ.
- Thời gian. Đóng và lắp thường mất ba đến sáu tuần kể từ lúc chốt bản vẽ. Nếu đang thuê nhà chờ chuyển vào thì đây là chi phí thật.
- Không đổi được. Món may đo sai kích thước hoặc sai màu thì chỉ còn cách sửa, không trả lại được.
- Khó di dời. Chuyển nhà thì phần lớn đồ may đo ở lại.
Chi phí ẩn của đồ mua sẵn
Chiều ngược lại cũng có khoản không hiện trong hóa đơn:
- Diện tích chết. Khe hở giữa tủ và tường, khoảng trống trên nóc tủ, góc phòng không dùng được. Trong căn hộ 60 m² thì vài chục centimet nhân với nhiều món là đáng kể.
- Chi phí sửa nhà cho vừa đồ. Thỉnh thoảng phải dịch ổ điện hoặc bỏ một đoạn nẹp chân tường.
- Không đồng bộ vật liệu. Vân gỗ và tông màu của các hãng khác nhau hiếm khi khớp, và sự lệch tông chỉ lộ ra khi các món đứng cạnh nhau trong nhà.
Cách phối hợp trong thực tế
Phương án thường cho kết quả tốt nhất là chia theo lớp:
- Lớp cố định gồm tủ bếp, tủ quần áo, vách tivi, đầu giường. Làm may đo, đồng bộ một hệ vật liệu và một tông màu.
- Lớp đồ rời gồm sofa, bàn ăn, ghế, giường. Mua sẵn, chọn theo công năng và độ bền.
- Lớp thay được gồm đèn, thảm, rèm, tranh. Mua sẵn, chấp nhận thay sau vài năm.
Chia như vậy giữ được sự đồng bộ ở phần khó sửa nhất, đồng thời giữ được khả năng thay đổi ở phần dễ chán nhất.
Khi đặt may đo, cần chốt trước những gì
Ba nhóm thông tin nên có trong hợp đồng, vì đây là chỗ hay xảy ra tranh cãi lúc nghiệm thu:
- Vật liệu cốt và bề mặt ghi rõ tên thương mại, không ghi chung chung là gỗ công nghiệp cao cấp. Cốt chống ẩm hay cốt thường là hai mức giá khác nhau.
- Thương hiệu và mã phụ kiện, kèm cam kết không đổi sang loại tương đương mà không hỏi.
- Cách xử lý cạnh và cách bịt các mặt khuất. Mặt lưng tủ và đáy ngăn kéo là nơi hay bị dùng vật liệu mỏng hơn.
Nên yêu cầu bản vẽ triển khai từng món có ghi kích thước, chứ không chỉ ảnh phối cảnh. Ảnh phối cảnh không thể hiện được chiều sâu ngăn kéo hay chiều cao khoang treo.
Kết luận
May đo không phải phiên bản đắt tiền hơn của đồ mua sẵn, mà là công cụ để lấy lại diện tích và xử lý những chỗ mà đồ tiêu chuẩn không với tới. Dùng nó cho đúng việc đó thì tiết kiệm; dùng nó cho cái ghế và cái bàn thì chỉ là trả thêm tiền cho cùng một công năng.
